Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Công ty khoáng sản Bắc Kạn: 2 vụ tai nạn lao động làm 3 người chết

Công ty khoáng sản Bắc Kạn: 2 vụ tai nạn lao động làm 3 người chết


    Nơi xảy ra hai vụ tai nạn thuộc Khu Liên hợp các nhà máy chế biến khoáng sản huyện Lũng Váng
    Chưa đầy 20 ngày nhưng tại Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn đã để xảy ra 2 vụ tai nạn lao động cướp đi mạng sống của 3 người.
    Sáng 26/10, tại Khu liên hợp các Nhà máy Chế biến Khoáng sản Lũng Váng đóng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (đơn vị thành viên của Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn) đã xảy ra vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm 2 người chết.
    Vào lúc 7h sáng, một thợ điện đã phát hiện 2 công nhân làm việc tại Nhà thu bụi của dây chuyền luyện chì trong tình trạng bất động.
    Ngay sau đó, 2 người này được lực lượng chức năng đưa ra ngoài, dùng mọi biện pháp sơ cứu và đưa đi bệnh viện huyện cấp cứu nhưng vẫn không qua khỏi.
    Nguyên nhân ban đầu dẫn đến cái chết của 2 công nhân này xác định là do ngạt khí. Danh tính 2 nạn nhân được xác định là anh Hoàng Văn Du (sinh năm 1987, hộ khẩu tại xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn) và anh Hoàng Văn Quý (sinh năm 1988, thường trú tại xã Lương Bằng, huyện Chợ Đồn).
    Cả 2 nạn nhân đã được bàn giao cho gia đình làm lễ tang và mai tang. Vụ việc vẫn đang tiếp tục được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ.
    Trước đó 9 ngày, tức ngày 17/10, tại mỏ Pù Sáp thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản Bắc Kạn cũng đã để xảy ra một vụ tai nạn lao động gây chết người. Nạn nhân là một kỹ sư có tên Hoàng Tuấn Anh, thường trú tại tỉnh Hưng Yên.
    Nguyên nhân vụ tại nạn được xác định sau khi đã cho nổ mìn bên trong hầm, anh Hoàng Tuấn Anh xuống hầm để kiểm tra kỹ thuật trước khi cho công nhân vào khai thác thì hầm bị sập. Anh Hoàng Tuấn Anh bị đất đá đè vào người chết tại chỗ.
    Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có khoảng 30 điểm khai thác và chế biến khoáng sản như vậy, chủ yếu là khoảng sản vàng, sắt, và chì kẽm.
    Chu Lương

    Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

    10 Biện Pháp Tăng Cường Sự Tuân Thủ Phương Tiện Bảo Vệ Cá Nhân

    10 Biện Pháp Tăng Cường Sự Tuân Thủ Phương Tiện Bảo Vệ Cá Nhân

    (ngoinhabaoho.blogsppot.com)
    1. Phương tiện bảo vệ cá nhân (PPE) là một trong những biện pháp để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động. Và theo yêu cầu của pháp luật, người sử dụng lao động phải trang bị PPE cho người lao động. Tuy nhiên có một thực tế là khi được trang bị PPE, một bộ phận không nhỏ người lao động đã không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích.
      10 biện pháp tăng cường sự tuân thủ phương tiện bảo vệ cá nhân
      Phương tiện bảo vệ cá nhân (PPE) là một trong những biện pháp để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động. Và theo yêu cầu của pháp luật, người sử dụng lao động phải trang bị PPE cho người lao động. Tuy nhiên có một thực tế là khi được trang bị PPE, một bộ phận không nhỏ người lao động đã không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích. Trong bài viết này thongtinantoan gợi ý quý độc giả 10 biện pháp nhằm tăng cường sự tuân thủ PPE.
      1. Thiết lập và nhất quán áp dụng chính sách về PPE. Đảm bảo tất cả người lao động nhận thức về nguyên tắc và hậu quả của việc không tuân thủ PPE ( những rủi ro, thương tật có thể xảy ra nếu không sử dụng PPE).
      2. Hãy đề cập đến vấn đề PPE trong các cuộc họp an toàn. Nhận diện các mối nguy và giải thích cách PPE được thiết kế để bảo vệ chống lại những mối nguy đó.
      3. Hỏi người lao động và đưa ra lý do tại sao họ phải mang PPE – ví dụ, trở về nhà an toàn cùng với gia đình của họ, phòng tránh tai nạn, thương tật…
      4. So sánh việc sử dụng PPE ngang bằng với việc tập thể dục và duy trì lối sống khỏe mạnh. Người lao động làm rất nhiều điều như tập thể dục, ăn uống đúng cách, và kiểm tra sức khỏe định kỳ… Tại sao không sử dụng PPE để bảo vệ sức khỏe của họ?
      5. Hỏi nhân viên về những vấn đề liên quan đến PPE. Lắng nghe những phàn nàn và lý do không tuân thủ để xem xét hướng giải quyết phù hợp.
      6. Lắp đặt các biển cảnh báo chỉ rõ những loại PPE nào cần thiết cho mỗi khu vực làm việc. Tăng cường việc giáo dục ý thức bằng phương pháp trực quan.
      7. Khi nói về sự cần thiết của việc sử dụng PPE, hãy cho người lao động thấy ngay cả các vận động viên chuyên nghiệp cũng mang PPE khi chơi thể thao. Điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến ý thức tuân thủ của những nhân viên trẻ tuổi vốn là những đối tượng có ý thức tuân thủ kém nhất.
      8. Cung cấp số liệu thống kê và mô tả về các tai nạn do người lao động không sử dụng PPE đã xảy ra tại nơi làm việc của bạn hay trong ngành công nghiệp của bạn. Những số liệu đó có thể tác động đến suy nghĩ và hành động của nhiều người.
      9. Giao trách nhiệm theo dõi sự tuân thủ PPE của người lao động cho người giám sát công việc và không bỏ qua bất cứ sự không tuân thủ nào, với bất cứ lý do nào của người lao động.
      10. Áp dụng hình thức kỷ luật cho những vi phạm lặp đi lặp lại. Củ cà rốt thì thường tốt hơn cây gậy, nhưng đối với những người vi phạm thường xuyên thì bạn bắt buộc phải áp dụng cây gậy.
      Bạn có thể có những cách thức khác để khuyến khích sự tuân thủ PPE. Song, cho dù bạn áp dụng cách thức nào đi nữa thì hãy đảm bảo bạn đạt được mục tiêu 100% tuân thủ, thấp hơn là không chấp nhận được.

    Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi: Nên mở rộng đối tượng bao phủ của chính sách an toàn, vệ sinh lao động

    Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi: Nên mở rộng đối tượng bao phủ của chính sách an toàn, vệ sinh lao động


    (ngoinhabaoho.blogspot.com)
      Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội
      Quy định, chính sách về an toàn, vệ sinh lao động mới đáp ứng hơn 30% lực lượng lao động. Còn rất đông lao động trong khu vực nông nghiệp và phi chính thức chưa được điều chỉnh. Do đó, cần mở rộng đối tượng bao phủ của pháp luật về lĩnh vực này.
      Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội nhận định, vấn đề bảo đảm an toàn cho nhóm lao động không có quan hệ lao động thuộc khu vực phi chính thức rất quan trọng. Quy định về an toàn, vệ sinh lao động mới đáp ứng cho hơn 30% lực lượng lao động. Chỉ người làm việc có quan hệ lao động chịu tác động của pháp luật hiện hành, còn rất đông lao động trong khu vực nông nghiệp và phi chính thức hoàn toàn chưa được điều chỉnh. Thống kê về tai nạn lao động của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chỉ đưa ra khoảng 1/3 số vụ tai nạn lao động trong thực tế, chưa phản ánh hết tình hình tai nạn lao động của nước ta.
      Theo ông Lợi, điểm cốt yếu trong dự thảo luật là phạm vi điều chỉnh rộng hơn, không chỉ cho 15 triệu lao động khu vực chính thức, tương đương 33% nguồn nhân lực, mà bao phủ cả lao động đang làm việc trong khu vực phi chính thức, như nông nghiệp, nông thôn, làng nghề. Tuy nhiên, dự thảo luật chưa bao quát đầy đủ chính sách cho đối tượng này. Nhóm nhân lực có hợp đồng lao động được thụ hưởng chính sách từ nguồn quỹ hỗ trợ cho tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Thậm chí, quỹ này chưa chi hết, còn kết dư khoảng 16 nghìn tỷ đồng. Nhưng toàn bộ lao động ở khu vực phi chính thức, tương đương 37 triệu người, chưa được hưởng lợi từ chính sách này.
      Ông Bùi Sỹ Lợi cho rằng, Nhà nước nên khuyến khích người lao động thuộc khu vực không chính thức tham gia vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp. Quy định này trong thực tế liệu khó khả thi, vì hiện nay chúng ta đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, 71 % dân số tham gia bảo hiểm y tế. Nếu bị tai nạn lao động, ốm đau do bệnh nghề nghiệp, người dân có thể dùng thẻ bảo hiểm y tế để khắc phục rủi ro của tai nạn lao động nên khó thu hút người dân tham gia. Do đó, dự thảo Luật nên quy định lộ trình, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, phổ biến cho người dân biết lợi ích khi tham gia quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nhà nước nên dành một phần ngân sách hỗ trợ cho các đối tượng, trước hết ưu tiên cho khu vực khó khăn nhất như nông nghiệp, nông thôn, để khi đã chuyển biến, người dân nhận thấy lợi ích sẽ tự nguyện tham gia.
      Một hướng nữa là khuyến khích xã hội hóa công tác tuyên truyền, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp… khi tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện ATVSLĐ có thể mở rộng tới đối tượng tự do, thu hút thêm cho người dân tham gia.
      Ông Lợi nhấn mạnh, Luật An toàn, vệ sinh lao động cần đồng bộ với các văn bản pháp luật đã có hiệu lực như Bộ luật Lao động sửa đổi, Luật Bảo hiểm xã hội…quy định bắt buộc người lao động có hợp đồng lao động tham gia vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Xu hướng chung của các nước cũng như Việt Nam là phải chuyển dịch dần lao động từ khu vực không có quan hệ sang có quan hệ lao động để bảo dảm quyền, lợi ích cho người lao động. Đó là chính sách làm việc công bằng, hưởng lương, thưởng, phụ cấp đầy đủ, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
      Được biết, nét mới trong dự thảo Luật lần này là bổ sung nhiều quy định về ATVSLĐ với lao động không có hợp đồng lao động, hay lao động thuộc khu vực không có quan hệ lao động. Thí dụ như quy định về thông tin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện ATVSLĐ, khai báo tai nạn lao động. Dự thảo cũng nhấn mạnh tới công tác điều tra tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng. Theo đó, thanh tra ATVSLĐ có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng bị thương từ hai người lao động trở lên. Trong quá trình điều tra tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng mà phát hiện có dấu hiệu tội phạm, thanh tra ATVSLĐ phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đề nghị chuyển hồ sơ cho cơ quan tố tụng hình sự.

      Ngân Anh (NDĐT)

      Doanh nghiệp bỏ mặc công nhân bị nạn

      Doanh nghiệp bỏ mặc công nhân bị nạn


      (ngoinhabaoho.blogspot.com)

        Khi TNLĐ xảy ra, DN phải khai báo với cơ quan chức năng, nếu vụ việc nghiêm trọng, thanh tra sẽ lập đoàn kiểm tra, xử phạt và buộc khắc phục hậu quả. Nếu NLĐ khiếu nại mà DN không giải quyết thì có thể kiện ra tòa để được bảo vệ quyền lợi. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cố tình né tránh, không thực hiện các quy định khi người lao động bị tai nạn lao động.
        “Chồng tôi bị tai nạn lao động (TNLĐ) tử vong khi làm việc đã hơn 2 tháng nay nhưng công ty không bồi thường”. Chị Hồ Thị Thanh Tuyền - ngụ quận Thủ Đức, TP HCM - cho biết. Chồng chị là anh Nguyễn Thành Phong, làm việc tại Công ty Nga Nguyễn (đường Bến Mễ Cốc, phường 15, quận 8, TP HCM).
        Ngày 2-8, trong quá trình thi công công trình tại Công ty CP Hữu Toàn (quận Tân Bình, TP HCM), anh Phong bị rơi từ tầng 3 xuống đất tử vong tại chỗ. Theo ông Bùi Việt Tú, Trưởng Phòng Tổ chức Hành chính Công ty CP Hữu Toàn, tuy anh Phong không phải là người lao động (NLĐ) của công ty nhưng khi TNLĐ xảy ra, Công ty CP Hữu Toàn đã hỗ trợ mọi chi phí ở bệnh viện, chi phí mai táng cho gia đình và phúng điếu 30 triệu đồng.
        Còn Công ty Nga Nguyễn, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong vụ TNLĐ của anh Phong, thì lại né tránh. Phóng viên Báo Người Lao Động đã nhiều lần liên lạc với công ty qua điện thoại nhưng không có ai bắt máy. Ngày 9-10, lần theo địa chỉ, chúng tôi tới Công ty Nga Nguyễn nhưng cửa đóng. Theo ông Trương Văn Thạch - Tổ trưởng Tổ 83, khu phố 7, phường 15, quận 8 - địa chỉ của Công ty Nga Nguyễn là nhà của bà Nguyễn Thị Thu Nga. Hiện vụ TNLĐ của anh Phong đang được Công an quận Tân Bình thụ lý điều tra.
        Thừa nhận có xảy ra tai nạn nhưng không bồi thường là trường hợp của anh Nguyễn Trung Nam ở quận 7, TP HCM. Anh Nam là nhân viên kỹ thuật kéo cáp của một đơn vị viễn thông ở quận Bình Thạnh, TP HCM. Ngày 30-7, trong lúc thi công tuyến cáp quang tại cư xá Thanh Đa, anh Nam bị điện giật rơi từ tầng 3 xuống đất, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, sau đó chuyển sang Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP HCM để điều trị. Theo chứng nhận thương tích của Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP HCM, anh Nam bị gãy 1/3 cẳng chân trái. “Sau khi bị nạn, tôi đã nhiều lần liên lạc, gửi đơn khiếu nại nhưng nhiều tháng trôi qua, công ty vẫn không giải quyết” - anh Nam bức xúc.
        Ông Nguyễn Văn Minh, phó giám đốc kỹ thuật nơi anh Nam làm việc, cho biết đơn vị đã đóng viện phí 2,5 triệu đồng; trong quá trình anh Nam điều trị, đơn vị có đến thăm hỏi. “Còn việc bồi thường, đơn vị sẽ báo cấp trên và sẽ báo lại sau” - ông Minh hứa. Thế nhưng đến nay, công ty vẫn chưa giải quyết vụ việc của anh Nam.
        May mắn hơn các trường hợp trên, anh Nguyễn Tấn Thịnh - ngụ xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai - được “hứa” bồi thường sau khi cơ quan chức năng can thiệp. Trong quá trình làm việc tại Công ty CP Thương mại Dịch vụ Đất Mới (ALC Corp; quận 2, TP HCM), anh Thịnh bị máy cắt đứt lìa 5 ngón tay phải (bệnh viện đã nối lại thành công ngón thứ 2 và 3).
        Phía ALC Corp cho biết đã hỗ trợ viện phí, thăm hỏi và hỗ trợ 23 triệu đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp (DN) này cho rằng anh Thịnh là NLĐ của Công ty TNHH OS Việt Nam (tòa nhà Packsimex, quận 1, TP HCM). Liên lạc với Công ty TNHH OS Việt Nam nhiều lần, cuối cùng chúng tôi cũng được ông Ngô Quốc Nam, đại diện công ty, cho biết sau khi sự việc xảy ra, DN cam kết nhận anh Thịnh trở lại làm việc. DN cũng đã hỗ trợ viện phí, tiền lương; còn việc bồi thường, “DN sẽ bồi thường cao hơn quy định”. Tuy nhiên, bồi thường bao nhiêu thì ông Nam không tiết lộ mà bảo sẽ báo cáo lãnh đạo rồi thông tin sau.
        Trường Hoàng (NLĐ)

        Tai nạn lao động tăng cao trong lĩnh vực xây dựng

        Tai nạn lao động tăng cao trong lĩnh vực xây dựng


        (ngoinhabaoho.blogspot.com)
          Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có tới 30% trên tổng số vụ TNLĐ hiện nay rơi vào lĩnh vực xây dựng (trong đó 55% do ngã, 24% vướng các vấn đề về điện, 10% do sập đổ thiết bị trên công trình, 10% liên quan đến phương tiện bảo vệ cá nhân).
          Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 6 tháng đầu năm 2014 cả nước xảy ra 3.454 vụ tai nạn lao động (TNLĐ), làm 3.505 người bị nạn. So với 6 tháng đầu năm 2013, số vụ TNLĐ tăng 132 (3%), tổng số nạn nhân tăng 74 người (2%), số vụ TNLĐ chết người giảm 65 (20%) và số người chết giảm 25 (8%). Đặc biệt, số vụ TNLĐ gây chết người trong lĩnh vực xây dựng đang ngày càng gia tăng. Có tới 30% trên tổng số vụ TNLĐ hiện nay rơi vào lĩnh vực xây dựng (trong đó 55% do ngã, 24% vướng các vấn đề về điện, 10% do sập đổ thiết bị trên công trình, 10% liên quan đến phương tiện bảo vệ cá nhân).
          Theo thống kê, nguyên nhân chủ yếu để xảy ra TNLĐ chết người là do người sử dụng lao động chiếm 54,1%, trong đó người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao động; người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn; thiết bị không đảm bảo an toàn lao động. Ngoài ra, nguyên nhân từ người lao động chiếm 24,6% như: người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động; người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân. 21,3% còn lại là do các nguyên nhân khách quan khác.
          Ngoài ra còn nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng khác xảy ra 6 tháng đầu năm 2014 như: vụ do cháy xảy ra ngày 15-1-2014 làm 6 người chết, 1 người bị thương nặng tại Công ty TNHH MTV than Đồng Vông, (thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh); vụ do ngạt khí xảy ra ngày 11-4-2014 làm 3 người chết, 3 người bị thương tại Công ty cổ phần Vĩnh Phát (Khu công nghiệp Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế); vụ do đá lăn xảy ra ngày 23-4-2014 làm 2 người chết tại mỏ đá núi Đồng Thung thuộc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng 125 - Cencol, tỉnh Thanh Hóa...
          Có tới hơn 80% công nhân ngành xây dựng chủ yếu là lao động thời vụ và lao động tự do, phần nhiều trong số họ chưa được đào tạo bài bản nên ý thức bảo hộ lao động rất kém, chỉ biết làm lấy ngày công, ít khi quan tâm đến an toàn lao động. Trong khi các chủ thầu với kỹ thuật, công nghệ hạn chế, công tác giám sát thi công, đảm bảo an toàn lao động không được coi trọng là một trong số nguyên nhân dẫn đến những vụ TNLĐ thương tâm.
          Điển hình, trưa 7-10-2014, trong lúc bắc giàn giáo để lăn sơn nước cho công trình xây dựng nhà tại hẻm 205 Phạm Văn Chiêu, P14Q.Gò Vấp, TPHCM, anh Nguyễn Văn H. (33 tuổi, quê Thanh Hóa) đã ngã từ tầng 3 xuống đất tử vong. Trước đó, sáng 5-10 vụ TNLĐ thương tâm khác xảy ra tại Xí nghiệp vận chuyển số 1 thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị thành phố làm một thợ hồ trong lúc sửa mái tôn khu nhà phía trước xí nghiệp do bất cẩn đụng vào cầu dao điện cao thế đã bị giật rơi từ độ cao hơn 5m xuống đất tử vong. Nạn nhân khoảng 30 tuổi, quê Nghệ An, vào Bình Dương thuê nhà trọ đi làm phụ hồ nuôi vợ và con nhỏ mới sinh...
          Ngành xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân, lực lượng lao động chiếm khoảng 10%. Tuy nhiên, đây cũng là ngành có yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại. Lực lượng chủ yếu ở các vùng quê lên thành phố kiếm sống, làm việc theo kinh nghiệm, thiếu kiến thức và ý thức an toàn vệ sinh lao động. Do ý thức tự bảo vệ mình và bảo hộ chưa tốt là nguyên nhân chính dẫn đến những vụ tai nạn đau lòng.
          Anh Nguyễn Văn Cường (28 tuổi, quê Phú Thọ), thợ hồ đang thi công ở quận 3 khi được hỏi sao không sử dụng phương tiện bảo hộ lao động đã trả lời: “Cánh thợ hồ chúng em ít khi đội mũ bảo hộ vì toàn làm công trình nhỏ, chả có gì nguy hiểm cả. Đội vào nhiều khi vướng víu, mồ hôi ra khó chịu lắm, cứ mũ vải cho nhẹ nhàng”. Không riêng gì anh Cường, nhiều người khác cũng rất chủ quan, không chấp hành quy định về an toàn vệ sinh lao động tại các công trình đang thi công, chẳng sử dụng phương tiện bảo hộ đã được cấp phát như: găng tay, giày, mũ bảo hiểm, dây đeo an toàn...
          Trong khi các đơn vị xây dựng vẫn còn thờ ơ trong việc bảo hộ lao động theo đúng quy định như đăng ký, kiểm định các loại máy móc, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động, trang bị phương tiện bảo hộ, ký hợp đồng với người lao động...
          Để hạn chế những TNLĐ đáng tiếc xảy ra, không chỉ riêng người lao động mà các chủ đầu tư cần ý thức, trách nhiệm hơn nữa trong việc sử dụng nguồn lao động, cần đào tạo cơ bản, thực hiện giám sát điều kiện lao động tại các công trình, nhất là phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến an toàn vệ sinh lao động cho người lao động, đối tượng sử dụng lao động và có chế tài xử lý mạnh hơn. Cơ quan chức năng địa phương cũng cần phối hợp chặt chẽ trong việc kiểm tra, xử lý nghiêm những công trình xây dựng vi phạm an toàn lao động...
          Theo CA TP HCM

          Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

          Chương Trình Giám Sát Hành Vi An Toàn BBS

          Chương Trình Giám Sát Hành Vi An Toàn BBS

          (ngoinhabaoho.blogspot.com)
          1. Chương trình Giám sát hành vi an toàn BBSChương trình Giám sát hành vi an toàn BBS
            Chương trình giám sát hành vi an toàn (BBS) theo tiêu chuẩn Mỹ được thực hiện nghiêm túc nhằm đạt đến mức an toàn dựa trên hành vi, nhờ đó, ý thức của người lao động về an toàn trong khi lao động nâng lên rõ rệt, tạo văn hóa an toàn trong đội ngũ công nhân viên.

            Hành vi an toàn (BBS) là "ứng dụng khoa học về thay đổi hành vi cho các vấn đề về an toàn". hay "Một quá trình tạo ra một quan hệ đối tác an toàn giữa quản lý và nhân viên liên tục tập trung sự quan tâm và hành động, và những người khác, hành vi an toàn hàng ngày.

            BBS " tập trung vào những gì mọi người làm, phân tích lý do tại sao họ làm điều đó, và sau đó áp dụng một chiến lược can thiệp nghiên cứu hỗ trợ để cải thiện những gì mọi người làm".
            Tại BBS rất cốt lõi của nó được dựa trên một lớn hơn lĩnh vực khoa học gọi là quản lý hành vi tổ chức .Trong một hệ thống quản lý an toàn dựa trên hệ thống phân cấp kiểm soát rủi ro , BBS có thể được áp dụng cho nội các chiến lược nguy hiểm tránh hoặc kiểm soát hành chính (bao gồm cả sử dụng PPE), nhưng không nên được sử dụng trong ưu tiên việc thực hiện các biện pháp an toàn hợp lý thực tiễn tiếp tục lên hệ thống phân cấp.

            Để thành công một chương trình BBS phải bao gồm tất cả nhân viên, từ Giám đốc điều hành đến công nhân . Bao gồm nhưng không giới hạn giờ, tiền lương, nhân viên công đoàn, các nhà thầu và các nhà thầu phụ. Để đạt được những thay đổi trong hành vi, một sự thay đổi trong chính sách, thủ tục và / hoặc các hệ thống chắc chắn nhất cũng sẽ cần một số thay đổi. Những thay đổi này không thể được thực hiện mà không mua vào và hỗ trợ từ tất cả tham gia trong việc đưa ra những quyết định.

            BBS không dựa trên các giả định, cảm giác cá nhân, và / hoặc phổ biến kiến thức . Để thành công, chương trình BBS sử dụng phải được dựa trên kiến thức khoa học .

          Thiết bị tắm, rửa mặt khẩn cấp

          Thiết bị tắm, rửa mặt khẩn cấp (ngoinhabaoho.blogspot.com)




          Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

          Nghiệm thu đề tài khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định và đề xuất các giới hạn khuyến nghị đối với việc nâng nhấc vật nặng bằng tay cho người lao động Việt Nam”.

          Nghiệm thu đề tài khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định và đề xuất các giới hạn khuyến nghị đối với việc nâng nhấc vật nặng bằng tay cho người lao động Việt Nam”.

          (Ngoinhabaoho.blogspot.com) Chiều 22/10/2014, Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động đã tiến hành nghiệm thu đề tài khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định và đề xuất các giới hạn khuyến nghị đối với việc nâng nhấc vật nặng bằng tay cho người lao động Việt Nam” do CN. Ngô Thị Ánh Tuyết - Trung tâm KH Con người và Sức khỏe Lao động làm chủ nhiệm.
          CN. Ngô Thị Ánh Tuyết trình bày báo cáo tổng kết đề tài.
          Hội đồng nghiệm thu đề tài gồm có 5 thành viên do TS. Đỗ Trần Hải – Viện trưởng Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động làm chủ tịch Hội đồng.
          Đề tài được nghiên cứu nhằm xác định chỉ số giới hạn về khối lượng, tần suất và khoảng cách của công việc nâng nhấc vật nặng bằng tay. Đồng thời, đề xuất giới hạn khuyến nghị và chỉ dẫn áp dụng nâng nhấc vật nặng cho người lao động.
          Sản phẩm đạt được của đề tài là: Giới hạn khuyến nghị về khối lượng, tần suất và thời gian… trong việc nâng nhấc vật nặng bằng tay đối với người lao động Việt Nam lứa tuổi 20 – 29 tuổi; Tài liệu chỉ dẫn áp dụng ecgônômi cho người lao động VN đối với thao tác nâng vật nặng bằng tay; Bản vẽ chi tiết thiết kế giá thí nghiệm và giá thí nghiệm mô phỏng công việc nâng nhấc vật nặng bằng tay theo điều kiện chuẩn của người lao động VN.
          Sau khi nghe CN. Ngô Thị Ánh Tuyết- chủ nhiệm đề tài trình bày những nội dung chính, các kết quả nghiên cứu cũng như sản phẩm và những đóng góp của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đã đánh giá cao sự nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu của nhóm tác giả, và đưa ra những nhận xét, góp ý, trao đổi với chủ nhiệm đề tài: Đề tài đã nêu lên được trọng lượng nâng nhấc an toàn tại các mức chiều cao nâng của người lao động Việt Nam lứa tuổi 20-29 trong điều kiện thực nghiệm là: Chiều cao nâng nhấc từ sàn nhà lên đến khớp III bàn ngón tay (FK) là 38kgChiều cao nâng nhấc từ khớp III bàn ngón tay lên đến chiều cao vai (KS) là 26kgChiều cao nâng nhấc từ chiều cao vai lên đến tầm với (SR) là 19kg. Đề tài cũng đã chỉ ra được các mức giới hạn khuyến nghị về khối lượng, tần suất và khoảng cách nâng nhấc an toàn cho người lao động...Tuy nhiên đề tài vẫn còn một số hạn chế cần bổ sung chỉnh sửa: Cấu trúc và trình bày nội dung còn chưa được khoa học nên chỉnh sửa sao cho phù hợp; Cần đưa ra kiến nghị đề xuất cho các cơ quan có thẩm quyền về tiêu chuẩn nâng nhấc vật nặng cho người lao động Việt Nam. Hội đồng nghiệm thu đã đánh giá đây là đề tài khá quan trọng, có tính khả thi và là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo để có thể hướng tới mục tiêu xây dựng được tiêu chuẩn về trọng lượng nâng nhấc cho người Việt Nam. Hội đồng đã nhất trí thông qua với kết quả đạt loại B.

          Thùng phuy phát nổ như bom, nạn nhân tử vong tại chỗ (Đắk Lắk)

          Thùng phuy phát nổ như bom, nạn nhân tử vong tại chỗ

          (NGOINHABAOHO.BLOGSPOT.COM) Dùng máy hàn điện cắt thùng phuy, bất ngờ chiếc thùng phát nổ, nhiều mảnh vỡ bắn vào người anh Hùng.
          Vụ nổ kinh hoàng trên xảy ra vào khoảng 8h30 sáng 23/10 tại cơ sở gia công hàng nông sản Tấn Hoa ( thôn Tân Lập, xã Ea Yông, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk). Nạn nhân thiệt mạng là anh Lê Văn Hùng (33 tuổi, ở Buôn Pan, xã Ea Yông).
          Ông Võ Duy Cường (người nhà nạn nhân) cho biết, thời điểm xảy ra vụ nổ, anh Hùng có đến nhà anh Võ Văn Tấn (45 tuổi, chú vợ anh Hùng, là chủ cơ sở Tấn Hoa) để phụ giúp làm lò sấy cà phê.
          Khi anh Hùng dùng máy hàn điện để cắt thùng phuy loại 200 lít thì bất ngờ thùng phuy kích nổ, các mảnh vỡ của thùng phuy đã bắn đập vào người khiến anh này chết tại chỗ.
          Thùng phuy phát nổ như bom, nạn nhân tử vong tại chỗ
          Địa điểm nơi xảy ra vụ nổ kinh hoàng.
          Chiếc thùng vừa được anh Tấn vừa mua về, sau đó nhờ anh Hùng cắt đôi để phục vụ làm lò sấy cà phê. Để có thể tách làm đôi chiếc thùng phuy, anh Tấn có đưa cho anh Hùng một chiếc dùi để đục, nhưng anh Hùng nghĩ rằng dùng đục làm sẽ không hiệu quả nên dùng máy hàn điện để làm.
          Ông Bùi Huy Phong, Trưởng công an xã Ea Yông cho biết, vụ nổ có sức công phá rất mạnh. Nhiều phần thi thể của nạn nhân bắn khắp nhà xưởng. Nắp thùng bay cao làm cong thanh xà gồ, thủng mái tôm.
          Thùng phuy phát nổ như bom, nạn nhân tử vong tại chỗ
          Hiện trường nơi xảy ra vụ nổ kinh hoàng.
          Phần thùng còn lại bay xa khoảng 5 m hất đỗ cả xe máy dựng gần đó và đã bị biến dạng hoàn toàn.
          Nhận được trình báo công an CSĐT huyện Krông Pắk đã nhanh chóng có mặt khám nghiệm hiện trường, khám nghiệp tử thi để làm rõ nguyên nhân cái chết của nạn nhân.
          Công an huyện đang tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc.

          Nghệ An: Cần cẩu đứt cáp đè chết người đi đường.

          Nghệ An: Cần cẩu đứt cáp đè chết người đi đường.


            N
            (NGOINHABAOHO.BLOGSPOT.COM) Trong khi đang thi công công trình, dây cáp bất ngờ đứt khiến cần cẩu dài hơn 40 mét rơi xuống đường đè nát một xe máy cùng người điều khiển.
            Trong lúc thi công xây dựng cầu Hoàng Mai trên quốc lộ 1A, cần cẩu của đơn vị 412 Cienco4 (Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4) bỗng dưng đứt cáp khiến cần cẩu dài hơn 40 mét rơi xuống đường đè nát một xe máy cùng người điều khiển.
            Vụ tai nạn nghiêm trọng nói trên xảy ra vào khoảng 8 giờ 30 phút sáng ngày 27/9, trên cầu Hoàng Mai, đoạn qua tuyến Quốc lộ 1A thuộc địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
            Theo người dân chứng kiến, vào thời điểm trên, anh Hồ Phi Hùng (SN 1971 trú xóm Yên Trung, xã Quỳnh Dị, thị xã Hoàng Mai) đang điều khiển xe máy BKS 37P1 8384 lưu thông trên đường thì bất ngờ chiếc cần cẩu của đơn vị 412 Cienco4 (Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4) đứt cáp đổ sập xuống đường đè nát cả người và xe máy, anh Hùng tử vong ngay tại chỗ.
            Nhận được nguồn tin, công an thị xã Hoàng Mai đã có mặt tại hiện trường khoanh vùng tai nạn và điều tiết giao thông cũng như điều tra nguyên nhân vụ tai nạn. Do tai nạn xảy ra trên cầu, lượng người dân đổ xô đến xem rất đông nên giao thông ùn tắc nghiêm trọng.
            Tiến Anh

            Vụ nổ xưởng phân bón ở TP.HCM: Nguy hiểm hóa chất phát tán ra không khí.

            Vụ nổ xưởng phân bón ở TP.HCM: Nguy hiểm hóa chất phát tán ra không khí.

              (NGOINHABAOHO.BLOGSPOT.COM) Sau vụ nổ tại xưởng sản xuất phân bón của Công ty TNHH Đặng Huỳnh (số 66/2 Lê Thị Riêng, phường Thới An, quận 12, TP.HCM), lượng hóa chất phát tán trong không khí và tồn lưu tại hiện trường có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
              Chiều 19.10, thượng tá Nguyễn Thanh Hưởng, Phó giám đốc Cảnh sát phòng cháy chữa cháy TP.HCM, cho biết vụ nổ đã phát tán trong không khí và để lại hiện trường một lượng hóa chất, mà theo đánh giá là có ảnh hưởng đến sức khỏe người dân sinh sống xung quanh.
              Cũng theo thượng tá Hưởng, những loại hóa chất được phát hiện trong quá trình khám nghiệm hiện trường là những loại hóa chất có thể gây nổ hoặc tự bốc cháy.
              Thượng tá Hưởng cho biết thêm, đến thời điểm này (chiều 19.10), các cơ quan chức năng vẫn đang khảo sát, xử lý hiện trường một cách rất thận trọng.
              Khoảng 30 cán bộ, chiến sĩ công binh thuộc Bộ Tư lệnh TP.HCM đã vào cuộc, xử lý môi trường nơi xảy ra vụ nổ.
              Nhiều người dân sống quanh khu vực vụ nổ cho biết mùi hóa chất gần hiện trường vẫn còn nặng mùi và gây ngứa ngáy.
              Duy Nhân

              Nổ xưởng công ty phân bón 7 người thương vong ở TP HCM

              Nổ xưởng công ty phân bón 7 người thương vong ở TP HCM


                Vụ nổ khiến 7 người thương vong; toàn bộ nhà xưởng và bảy căn nhà cấp 4 bị sập, ngoài ra, một số nhà xung quanh trong vòng bán kính 50m cũng bị nứt tường, sập la phông.
                Lúc 21 giờ ngày 17/10, cơ quan chức năng công bố hiện có 1 người chết, 4 người bị thương và 2 người mất tích sau vụ nổ xảy ra vào khoảng 16 giờ cùng ngày.
                Theo thông tin ban đầu, vào lúc 16 giờ ngày 17/10 tại khu xưởng sản xuất của công ty TNHH SX-TM Đặng Huỳnh (chuyên sản xuất phân bón), số 66/2, khu phố 5, phường Thới An, quận 12 đột nhiên phát nổ.
                Nhận được tin báo của người dân, các lực lượng chức năng nhanh chóng có mặt tại hiện trường.
                Theo tìm hiểu, công ty TNHH SX-TM Đặng Huỳnh do ông Huỳnh Văn Hải (SN 1970) làm giám đốc và thời điểm xảy ra vụ nổ vợ chồng ông Hải không có mặt tại xưởng.
                Theo cơ quan chức năng, vị trí phát nổ có hố sâu và nhiều chai nhựa, thùng phi đựng hóa chất… bốc mùi cay nồng.
                Người bị chết trong vụ nổ được cơ quan chức năng xác định là Phan Thị Cẩm Tú (SN 1995, quê Đồng Tháp).
                Bốn người bị thương gồm: Nguyễn Thị Thúy Vân (SN 1984), Phạm Thùy Dương (SN 2000-Con gái chị Vân), ông Đoàn Phùng (SN 1968) và ông Nguyễn Văn Súp (thường trú số nhà 166/2, đường Lê Thị Riêng, phường Thới An). Hiên các nạn nhân đang được cấp cứu, điều trị tại bệnh viện đa khoa quận 12.
                Hai  nạn nhân được xác định là mất tích là Nguyễn Thị Ngọc Thanh (SN 1984) và Huỳnh Thị Tâm (SN 1978), cùng quê Đồng Tháp và là công nhân của xưởng sản xuất.
                Vụ nổ khiến toàn bộ nhà xưởng và bảy căn nhà cấp 4 bị sập, ngoài ra, một số nhà xung quanh trong vòng bán kính 50m cũng bị nứt tường, sập la phông.
                Hiện lực lượng chức năng vẫn đang đào bới hiện trường tìm hai nạn nhân mất tích, đông thời xác định nguyên nhân gây ra vụ nổ.
                Phương Nam

                Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

                Tiêu chuẩn VN 6008:1995

                Quy Trình Kiểm Định Kỹ Thuật An Toàn Bình Chịu Áp Lực

                (ngoinhabaoho.blogspot.com) -Quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn bình chịu áp lực do Cục An toàn lao động biên soạn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành theo Quyết Định số 67/2008/BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2008.

                BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
                BÌNH CHỊU ÁP LỰC - QUY TRÌNH KIỂM ĐỊNH
                KỸ THUẬT AN TOÀN
                QTKĐ 09 : 2008/BLĐTBXH
                HÀ NỘI - 2008​


                Lời nói đầu
                Quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn bình chịu áp lực do Cục An toàn lao động biên soạn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành theo Quyết Định số 67/2008/BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2008.
                QUY TRÌNH KIỂM ĐỊNH KỸ THUẬT AN TOÀN BÌNH CHỊU ÁP LỰC

                1. Phạm vi áp dụng

                Quy trình này quy định về trình tự, thủ tục kiểm định kỹ thuật an toàn lần đầu, định kỳ và bất thường các bình chịu áp lực thuộc Danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
                Căn cứ vào quy trình này, cơ quan kiểm định áp dụng trực tiếp hoặc xây dựng quy trình cụ thể, chi tiết cho từng dạng, loại bình chịu áp lực nhưng không được trái với quy định của quy trình này.

                2. Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng
                Bao gồm những tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn sau:
                +TCVN 6153:1996: Bình chịu áp lực - Yêu cầu kỹ thuật an toàn về thiết kế, kết cấu, chế tạo.
                TCVN 6154:1996: Bình chịu áp lực - Yêu cầu kỹ thuật an toàn về thiết kế, kết cấu, chế tạo, phương pháp thử.
                TCVN 6155:1996: Bình chịu áp lực - Yêu cầu kỹ thuật an toàn về lắp đặt, sử dụng, sửa chữa.
                TCVN 6156:1966: Bình chịu áp lực - Yêu cầu kỹ thuật an toàn về lắp đặt, sử dụng, sửa chữa, phương pháp thử.
                TCVN 6008:1995: Thiết bị áp lực - Mối hàn yêu cầu kỹ thuật và phương pháp kiểm tra
                + TCVN 7472-2005: Thiết bị áp lực - Hàn liên kết.

                3. Các bước kiểm định
                Tiến hành xem xét, kiểm tra kỹ thuật an toàn theo các bước sau :
                - Chuẩn bị kiểm định: Mục 3.1
                - Kiểm tra hồ sơ: Mục 3.2
                - Kiểm tra bên ngoài: Mục 3.3
                - Kiểm tra bên trong: Mục 3.4
                - Kiểm tra khả năng chịu áp lực: Mục 3.5
                - Kiểm tra độ kín chỉ áp dụng đối với các bình làm việc với các môi chất độc hại, dễ cháy nổ: Mục 3.6
                - Kiểm tra vận hành: Mục 3.7 
                Lưu ý: Các bước kiểm tra tiếp theo chỉ được tiến hành khi kết quả kiểm tra ở bước trước đó đã đạt yêu cầu.
                Trước khi thực hiện việc khám xét: Các biện pháp an toàn phải được thực hiện, bình áp lực phải được vệ sinh; các cửa kiểm tra, cửa người chui (nếu có) phải được tháo rời, khi nghi ngờ tình trạng kỹ thuật các bộ phận chịu áp lực của bình cần tháo gỡ một phần hoặc toàn bộ lớp cách nhiệt đảm bảo cho việc khám xét trong ngoài; cơ sở phải cử người chứng kiến khám nghiệm

                3.1. Chuẩn bị kiểm định
                3.1.1. Thông báo cho cơ sở về kế hoạch và các yêu cầu trước khi đưa bình vào kiểm định.
                3.1.2. Xác định và thống nhất biện pháp an toàn với cơ sở trước khi thực hiện kiểm định.Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, phương tiện, thiết bị kiểm tra cho quá trình kiểm định.

                3.2. Kiểm tra hồ sơ
                3.2.1. Căn cứ vào chế độ kiểm định để kiểm tra, xem xét về hồ sơ của bình.
                3.2.1.1 Khi kiểm định lần đầu phải xem xét các hồ sơ sau:
                a, Lý lịch của bình (gồm: các chỉ tiêu về kim loại chế tạo, kim loại hàn; tính toán sức bền các phần tử chịu áp lực; bản vẽ cấu tạo ghi đủ các kích thước chính; hướng dẫn vận hành bảo dưỡng sửa chữa…).
                b, Hồ sơ xuất xưởng của bình (gồm:các chứng chỉ về kim loại chế tạo, kim loại hàn; kết quả kiểm tra chất lượng mối hàn; biên bản nghiệm thử xuất xưởng…).
                c, Các biên bản kiểm định thiết bị đo lường; biên bản kiểm tra tiếp địa, chống sét, thiết bị bảo vệ (nếu có). 
                d, Hồ sơ lắp đặt: chỉ áp dụng với bình cố định
                3.2.1.2 Khi kiểm định định kỳ phải xem xét các hồ sơ sau:
                a, Lý lịch, biên bản kiểm định và phiếu kết quả kiểm định lần trước.b, Hồ sơ về quản lý sử dụng, vận hành, bảo dưỡng; biên bản thanh tra, kiểm tra (nếu có).
                3.2.1.3 Khi kiểm định bất thường phải xem xét các hồ sơ sau:
                a, Trường hợp sửa chữa: hồ sơ thiết kế sửa chữa, biên bản nghiệm thu sau sửa chữa có hàn và thay thế các bộ phận chịu áp lực.
                b, Trường hợp thay đổi vị trí lắp đặt: cần xem xét bổ sung hồ sơ lắp đặt.
                c, Trường hợp sau khi thiết bị không làm việc từ 12 tháng trở lên xem xét hồ sơ như kiểm định định kỳ.
                Lưu ý: Đối với những bình áp lực rõ xuất xứ nhưng hồ sơ kỹ thuật không đầy đủ thì phải tiến hành lập bổ sung.

                3.3. Kiểm tra bên ngoài,bên trong
                Kiểm tra bên ngoài,bên trong theo trình tự các bước sau:
                3.3.1. Khi khám xét bên ngoài và bên trong bình áp lực, cần chú ý phát hiện những thiếu sót sau:
                - Các vết nứt, rạn, vết móp, chỗ phồng phía trong và phía ngoài thành bình áp lực; dấu vết rò rỉ hơi tại các mối hàn, mối tán đinh, mối núc ống.
                - Tình trạng cáu cặn, han gỉ, ăn mòn thành kim loại các bộ phận.
                - Tình trạng kỹ thuật của phụ kiện, dụng cụ đo kiểm và an toàn.
                - Tình trạng kỹ thuật của lớp cách nhiệt.
                - Kiểm tra độ bắt chặt của các chi tiết ghép nối.
                - Đối với những vị trí không thể tiến hành khám xét bên trong khi kiểm định thì việc kiểm tra tình trạng kỹ thuật phải được thực hiện theo tài liệu kỹ thuật của nhà chế tạo.Trong tài liệu phải ghi rõ: khối lượng cần kiểm tra, phương pháp và trình tự kiểm tra.
                3.3.2. Kiểm tra vị trí lắp đặt thiết bị: hệ thống chiếu sáng; sàn, cầu thang, giá treo...; hệ thống tiếp địa, chống sét (nếu có).
                3.3.3. Kiểm tra số lượng và tình trạng làm việc của các thiết bị phụ trợ.
                3.3.4. Đối với bình làm việc có môi chất độc hại, dễ cháy nổ phải thực hiện biện pháp khử khí trước khi tiến hành công việc kiểm tra, người trực tiếp kiểm tra phải nắm vững quy trình xử lý sự cố thường gặp.
                3.3.5. Trường hợp bình có ống chùm,nếu thấy nghi ngờ về tình trạng kỹ thuật trong khu vực ống chùm thi phải yêu cầu tháo từng phần hoặc toàn bộ ống chùm ra.
                Lưu ý: Khi không có khả năng tiến hành khám xét bên trong do đặc điểm kết cấu của bình, cho phép thay thế việc khám xét bên trong bằng thử thủy lực với áp suất thử quy định và khám xét những bộ phận có thể khám xét được.

                3.5 Kiểm tra khả năng chịu áp lực (Thử thuỷ lực)
                Thử thủy lực nhằm mục đích kiểm tra độ bền và độ kín của bình.
                3.5.1. Nếu bình có kết cấu nhiều phần làm việc ở cấp áp suất khác nhau có thể tách và thử thuỷ lực cho từng phần,
                3.5.2. Phải có biện pháp khống chế sự tác động của quá trình thử thủy lực đến các thiết bị bảo vệ tự động,đo kiểm và đảm bảo các thiết bị này không bị phá hỏng trong quá trình thử. Trong trư­­­ờng hợp không thực hiện đư­­ợc thì cô lập hoặc được tháo ra thử riêng.
                3.5.3. Môi chất và nhiệt độ môi chất thử, áp suất thử, thời gian duy trì áp suất theo quy định tại mục 3.11 của TCVN 6156:1996 nếu nhà chế tạo có quy định áp suất thử cao hơn thì theo quy định của nhà chế tạo.
                3.5.4. Trường hợp không có điều kiện thử thủy lực do ứng suất trên bệ móng, trên sàn gác hoặc khó xả nước; do có lớp lót bên trong ngăn cản việc cho nước vào, cho phép thay thế bằng thử áp lực khí (không khí hay khí trơ) và tiến hành kiểm tra độ kín bằng dung dịch xà phòng hoặc bằng các biện pháp khác,trong quá trình thử phải áp dụng các biện pháp an toàn quy định tại 3.16 TCVN 6156:1996
                3.5.5. Nạp môi chất thử và tiến hành tăng áp suất từ từ để tránh hiện tượng dãn nở đột ngột làm hỏng thiết bị duy trì áp suất thử trong thời gian 5 phút và nghiêm cấm việc gõ búa.Theo dõi, phát hiện các hiện tượng: biến dạng,nứt... trong quá trình thử thủy lực.
                3.5.6. Giảm áp suất từ từ về áp suất làm việc định mức, giữ nguyên áp suất này trong suốt quá trình khám xét.Sử dụng búa kiểm tra gõ vào các vị trí có nghi ngờ sau đó giảm áp suất về (0); khắc phục các tồn tại (nếu có) và kiểm tra lại kết quả đã khắc phục được.
                3.5.7. Đánh giá kết quả thử: Tối thiểu đạt kết quả theo quy định tại mục 3.4.5 TCVN 6154:1996.
                3.5.8. Trong trường hợp bình được miễn thử thuỷ lực theo quy định của TCVN về kỹ thuật an toàn hiện hành thì phải ghi rõ lý do trong biên bản kiểm định và đính kèm các biên bản nghiệm thu thủy lực xuất xưởng của cơ sở chế tạo,biên bản nghiệm thu lắp đặt (nếu có).

                3.6 Kiểm tra độ kín (Thử kín):Chỉ áp dụng khi công nghệ đòi hỏi hoặc các bình làm việc với các môi chất độc hại, dễ cháy nổ.
                3.6.1. Sử dụng môi chất thử là khí trơ hoặc khí nén để nạp đến áp suất làm việc cho phép.
                3.6.2. Phát hiện các rò rỉ; đề xuất các biện pháp để cơ sở khắc phục, xử lý và kiểm tra lại.
                3.6.3. Đánh giá kết quả thử: Bình được coi là đạt yêu cầu ở bước thử này khi không phát hiện rò rỉ khí.

                3.7 Kiểm tra vận hành (Thử vận hành).
                3.7.1. Kiểm tra đầy đủ các điều kiện để bình có thể vận hành bình thường.
                3.7.2. Căn cứ vào quy trình, phối hợp với cơ sở đưa bình vào làm
                việc, xem xét tình trạng làm việc của bình và các phụ kiện kèm theo; sự làm việc của các thiết bị đo lường, bảo vệ.
                3.7.3. Khi bình làm việc ổn định, tiến hành nâng áp suất để kiểm tra và hiệu chỉnh áp suất làm việc của van an toàn (Trừ bình chứa môi chất độc hại, dễ cháy nổ) thực hiện niêm chì van an toàn.
                Van an toàn có thể hiệu chỉnh và niêm chì không cùng quá trình thử vận hành.
                Giá trị hiệu chỉnh van an toàn :
                + 0,05 MPa - khi áp suất làm việc cho phép đến 0,3 MPa;
                + 15% p - khi áp suất làm việc cho phép trên 0,3 MPa đến 6 MPa;
                + 10% p - khi áp suất làm việc cho phép trên 6 MPa.

                4. Xử lý kết quả kiểm định
                4.1. Lập biên bản kiểm định.
                4.1.1. Lập biên bản kiểm định theo mẫu quy định (ban hành kèm theo quy trình này).Khi miễn thử thuỷ lực kèm theo biên bản nêu tại mục 3.5.8 của quy trình này, ghi đầy đủ các nội dung của biên bản. Ghi rõ tiêu chuẩn đã áp dụng trong quá trình kiểm định.
                4.1.2. Ghi tóm tắt kết quả kiểm định vào lý lịch của bình (ghi rõ họ tên kiểm định viên, ngày tháng năm kiểm định).
                4.2. Thông qua biên bản kiểm định
                Thành phần tham gia thông qua biên bản kiểm định bắt buộc tối thiểu phải có các thành viên sau:
                + Chủ cơ sở hoặc người được chủ cơ sở ủy quyền.
                + Người được giao tham gia và chứng kiến kiểm định.
                Khi biên bản được thông qua,kiểm định viên,người tham gia chứng kiến kiểm định, chủ cơ sở cùng ký; chủ cơ sở đóng dấu vào biên bản.
                4.3. Khi bình đạt được các yêu cầu quy định tại Mục 3 lãnh đạo cơ quan kiểm định cấp phiếu kết quả kiểm định sau khi biên bản kiểm định được công bố tại cơ sở trong thời hạn 5 ngày.
                4.4. Khi bình không đạt các yêu cầu quy định tại Mục 3 thì thực hiện các bước 4.1 và 4.2 và chỉ cấp cho cơ sở biên bản kiểm định, có nêu rõ lý do bình không đạt yêu cầu kiểm định.

                5. Chu kỳ kiểm định
                5.1. Khám xét bên ngoài và bên trong: ba năm một lần.
                5.2. Khám xét bên ngoài,bên trong và thử thủy lực: sáu năm một lần.
                5.3. Kiểm tra vận hành bình : một năm một lần.
                5.4. Các xitéc và thùng chứa môi chất ăn mòn kim loại (clo, sulfua, hidro…) thời hạn khám nghiệm định kỳ không ít hơn hai năm một lần.
                5.5.Các xitéc và thùng chứa propan-butan và chứa các môi chất thông dụng thời hạn khám nghiệm định kỳ không ít hơn bốn năm một lần.
                5.6. Trường hợp nhà chế tạo quy định thời hạn khám nghiệm ngắn hơn thì theo quy định của nhà chế tạo.
                5.7. Khi rút ngắn chu kỳ kiểm định, kiểm định viên phải nêu rõ lý do trong biên bản kiểm định.
                5.8. Những trường hợp phải được khám nghiệm bất thường:
                a, Khi sử dụng lại các bình đã ngừng sử dụng từ 12 tháng trở lên.
                b, Khi bình được cải tạo hoặc chuyển đến lắp đặt ở vị trí mới.
                c, Khi nắn lại các chỗ phồng, móp, hoặc sửa chữa có sử dụng phương pháp hàn tại các bộ phận chủ yếu của bình.
                d, Khi nghi ngờ về tình trạng kỹ thuật của bình.
                Các nguyên nhân dẫn đến khám nghiệm bất thường phải ghi rõ vào lí lịch của bình


                (Bộ, UBND... )
                (Tên cơ quan KĐ)
                CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                Độc lập - Tự do - Hạnh phúc​


                .............., Ngày tháng năm

                BIÊN BẢN KIỂM ĐỊNH KỸ THUẬT AN TOÀN
                BÌNH CHỊU ÁP LỰC
                Số..............​


                Chúng tôi: (ghi họ và tên, chức danh và số thẻ kiểm định viên nếu có)

                Thuộc:
                Đã tiến hành kiểm định: Số thứ tự:
                Của: (ghi rõ tên cơ sở)
                Địa chỉ: (trụ sở chính của cơ sở)
                Địa chỉ lắp đặt bình:
                Tiêu chuẩn áp dụng:
                Có sự chứng kiến của:

                I- THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA BÌNH

                Loại, mã hiệu: Áp suất thiết kế: Mpa
                Số chế tạo: Áp suất làm việc: Mpa
                Năm chế tạo: Dung tích: Lít
                Nơi chế tạo: Môi chất làm việc:
                Công dụng của bình: Nhiệt độ làm việc: 0C 
                Đăng ký tại cơ quan:
                Ngày chuyển hồ sơ đăng ký:
                Ngày kiểm định gần nhất : Do cơ quan:
                II. CHẾ ĐỘ KIỂM ĐỊNH
                (Lần đầu, định kỳ, bất thường)

                III. NỘI DUNG KIỂM ĐỊNH

                1. Hồ sơ
                + Nhận xét:
                2. Kiểm tra
                2.1.Các thiết bị liên quan :
                + Vị trí lắp đặt: + Sàn, cầu thang:
                + Chống sét, nối trung tính bảo vệ: + Chiếu sáng vận hành:
                Đánh giá kết quả:
                Đạt ž Không đạt ž
                2.2.Bình chịu áp lực :
                + Các bộ phận chịu áp lực (tình trạng bề mặt kim loại và mối hàn):
                + Các thiết bị phụ, bộ phận phụ trợ:
                + Các thiết bị đo lường, bảo vệ, an toàn và tự động:
                Đánh giá kết quả:
                Đạt ž Không đạt ž
                3. Thử nghiệm


                NỘI DUNG THỬ
                MÔI CHẤT THỬ
                Áp suất làm việc
                (MPa)
                ÁP SUẤT THỬ
                ( MPa)
                THỜI GIAN THỬ
                (Phút)
                Thử thủy lực




                Thử kín




                Thử vận hành




                Van an toàn kiểm tra được hiệu chỉnh và niêm chì ở áp suất:
                Nhận xét :
                Đánh giá kết quả:
                Đạt ž Không đạt ž
                IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
                1. Bình được kiểm định có kết quả: Đạt £ Không đạt £
                2. Áp suất làm việc định mức cho phép: MPa
                3. Nhiệt độ làm việc định mức cho phép: 0C
                4. Áp suất làm việc của van an toàn: MPa
                5. Các kiến nghị:

                Thời hạn thực hiện kiến nghị:

                V. CHU KỲ KIỂM ĐỊNH
                Kiểm định định kỳ: Tháng năm
                Lý do rút ngắn thời hạn kiểm định (nếu có):
                Biên bản đã được thông qua ngày tháng năm
                Tại: 
                Biên bản được lập thành…. bản, mỗi bên giữ… bản.
                Chúng tôi, những kiểm định viên thực hiện kiểm định bình áp lực này hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác đối với kết quả kiểm định ghi trong biên bản./.

                ĐƠN VỊ SỬ DỤNG NGƯỜI CHỨNG KIẾN KIỂM ĐỊNH VIÊN
                (ký tên và đóng dấu) (ký, ghi rõ họ, tên) (ký, ghi rõ họ, tên)